Tin tức

Các nghĩa vụ về bảo hộ đầu tư trong Hiệp định VIFTA

Thứ Ba, 28/10/2025

I-xra-en là một trong những đối tác hợp tác thương mại, đầu tư và lao động quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Tây Á. Cụ thể, I-xra-en hiện là thị trường xuất khẩu đứng thứ 3, là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Việt Nam tại khu vực này. Bên cạnh đó, cơ cấu nền kinh tế 2 nước có tính bổ trợ lẫn nhau khi cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của I-xra-en và Việt Nam không cạnh tranh trực tiếp mà có sự bổ sung cho nhau. Do vậy, việc đàm phán, ký kết và thực thi VIFTA là tiền đề thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh sang I-xra-en, đồng thời có cơ hội tiếp cận các mặt hàng công nghệ cao của I-xra-en, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước.

Được khởi động từ ngày 2 tháng 12 năm 2015, trải qua 8 năm đàm phán với tổng cộng 12 phiên đàm phán chính thức, Hiệp định VIFTA đã được kết thúc đàm phán vào ngày 2 tháng 4 năm 2023. Trên cơ sở Nghị quyết số 110/NQ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Chính phủ và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã ký Hiệp định này với đại diện được ủy quyền của I-xra-en vào ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại I-xra-en.

Đối với chương đầu tư, Hiệp định VIFTA bao gồm các cam kết cơ bản giống như các FTA khác mà Việt Nam tham gia bao gồm các nghĩa vụ Đối xử quốc gia (NT), Đối xử Tối huệ quốc (MFN) và Yêu cầu thực hiện (PR) v.v.

Trong đó, trong Hiệp định VIFTA, cần phải hiểu các cam kết về bảo hộ hoá đầu tư về bản chất bao gồm các nghĩa vụ gồm: Đối xử đầu tư, thiệt hại và bồi thường, tước quyền sở hữu và bồi thường, và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước. Ở góc độ tổng quan, Hiệp định VIFTA là một hiệp định thương mại tự do (FTA) có cam kết ở mức độ trung bình, tức là mức độ cao hơn so với WTO và một số FTA truyền thống khác mà Việt Nam tham gia, tuy nhiên, so với FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA).

1. Về nghĩa vụ đối xử đầu tư

Điều 9.11 đặt ra nghĩa vụ đối với Việt Nam và I-xra-en rằng các khoản đầu tư được bảo hộ sẽ được dành sự đối xử công bằng, thỏa đáng và sự bảo hộ an toàn, đầy đủ trong lãnh thổ của mỗi Bên phù hợp với luật tập quán quốc tế được áp dụng.

Trong đó, “bảo hộ an toàn và đầy đủ” được hiểu là nghĩa vụ của một Bên phải hành động một cách hợp lý cần thiết để bảo vệ an toàn về vật chất của nhà đầu tư và khoản đầu tư được bảo hộ. Tuy nhiên, “bảo hộ an toàn và đầy đủ” trong mọi trường hợp, không có nghĩa là sự bảo vệ của cảnh sát tốt hơn sự bảo vệ dành cho công dân của Bên nơi đầu tư đã được thực hiện.

Hiệp định VIFTA cũng để ra một ngoại lệ đối với quy định của điều này khi một quyết định rằng đã có sự vi phạm điều khoản khác của Hiệp định này, hoặc của một hiệp định quốc tế khác, sẽ không cấu thành vi phạm điều khoản đối xử đầu tư.

2. Về nghĩa vụ thiệt hại và bồi thường

Điều 9.12 quy định mỗi Bên sẽ dành cho các nhà đầu tư của Bên kia bị tổn thất hoặc thiệt hại liên quan đến khoản đầu tư của họ trên lãnh thổ của mình do chiến tranh hoặc xung đột vũ trang khác, cách mạng, tình trạng khẩn cấp quốc gia, nổi dậy, khởi nghĩa, bạo loạn hoặc hoạt động tương tự khác trên lãnh thổ của mình, sự đối xử, liên quan đến hoàn trả, đền bù, bồi thường hoặc giải pháp khác không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho các nhà đầu tư của mình hay của bất kỳ nước thứ ba nào.

Nếu nhà đầu tư bị thiệt hại trên lãnh thổ của Bên khác phát sinh từ việc: (a) trưng dụng tài sản của nhà đầu tư bởi các lực lượng hoặc chính quyền của Bên đó; hoặc (b) phá huỷ tài sản của nhà đầu tư bởi lực lượng hoặc chính quyền của Bên đó, mà không phải là do hành động chiến đấu hoặc do tính thiết yếu của tình hình, thì Bên đó phải hoản trả hoặc bồi thường thiệt hại thoả đáng cho nhà đầu tư.

3. Về nghĩa vụ tước quyền sở hữu và bồi thường

Điều 9.13 quy định Việt Nam và I-xra-en sẽ không tước quyền sở hữu hoặc quốc hữu hoá một khoản đầu tư được bảo hộ bất kể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các biện pháp tương đương với tước quyền sở hữu hoặc quốc hữu hoá, trừ trường hợp vì mục đích công cộng; khi thực hiện theo pháp luật của Bên đó; trên cơ sở không phân biệt đối xử; và khi thực hiện cùng với bồi thường theo quy định tại Khoản 2 Điều 9.13.

Trong đó, việc bồi thường phải được thanh toán không chậm trễ và bằng đồng tiền tự do sử dụng; tương đương với giá thị trường của khoản đầu tư bị tước quyền sở hữu ngay trước khi việc tước quyền sở hữu xảy ra; không được phản ánh bất kỳ thay đổi về giá trị do việc tước quyền sở hữu dự kiến đã được biết trước; không được phản ánh bất kỳ thay đổi về giá trị do việc tước quyền sở hữu dự kiến đã được biết trước; có tính thanh khoản hữu hiệu và được chuyển đổi tự do; bao gồm tiền lãi tính theo lãi suất thương mại hợp lý cho đồng tiền đó, tính từ ngày tước quyền sở hữu cho tới ngày thanh toán.

4. Về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước

Hiệp định VIFTA có hẳn 1 Mục riêng quy định về giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư, cụ thể là Mục D, trong đó quy định về thủ tục để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Hiệp định VIFTA sử dụng cơ chế trọng tài để xem xét các tranh chấp. Cách tiếp cận này nhìn chung giống với đa phần các FTA khác như Hiệp định CPTPP, hay các FTA trong khuôn khổ ASEAN hay ASEAN +. Cách tiếp cận này khác với Hiệp định EVFTA bởi EVFTA sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp 2 cấp xét xử.

Trong trường hợp có tranh chấp đầu tư, nguyên đơn và bị đơn trước hết nên tìm cách giải quyết tranh chấp thông qua tham vấn và thương lượng. Trong trường hợp tranh chấp đầu tư không thể được giải quyết bằng tham vấn và thương lượng trong vòng 6 tháng kể từ ngày nguyên đơn yêu cầu bị đơn tham vấn và thương lượng bằng văn bản, nguyên đơn khi nộp đơn khiếu kiện ra trọng tài.

Trong đơn, nguyên đơn cần nêu rõ và chứng mình: bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Mục C của Chương này về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư; hoặc các cam kết liên quan đến tự do hoá đầu tư gồm: Điều 9.4 (Đối xử Quốc gia), 9.5 (Đối xử Tối huệ quốc), 9.7 (Quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị) và 9.6 (Yêu cầu thực hiện) liên quan đến việc quản lý, duy trì, sử dụng, hưởng hoặc định đoạt các khoản đầu tư. Đồng thời, nguyên đơn phải chứng minh nguyên đơn đã phải chịu tổn thất hoặc thiệt hại bởi nguyên nhân hoặc do phát sinh từ vi phạm đó.

Hiệp định VIFTA cũng quy định các nội dung khác để có thể giải quyết 1 vụ tranh chấp bao gồm: lựa chọn trọng tài, địa điểm trọng tài, địa điểm xét xử và ngôn ngữ tố tụng, việc điều hành của trọng tài, tài trợ của bên thứ 3, luật điều chỉnh.

5. Tác động đến Việt Nam

Việc ký kết Hiệp định VIFTA mang lại nhiều tác động tích cực cho Việt Nam. Các cam kết bảo hộ đầu tư rõ ràng, minh bạch giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài, qua đó cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam theo hướng ổn định và cạnh tranh hơn. Nhờ đó, Việt Nam có thể có thêm cơ hội thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ I-xra-en, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và đổi mới sáng tạo – những thế mạnh của quốc gia này. Bên cạnh đó, việc tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế sẽ góp phần nâng cao năng lực thể chế và tạo động lực hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư. Theo đó, VIFTA là bước tiến quan trọng giúp Việt Nam mở rộng mạng lưới FTA và nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

           Nguồn: Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương


Bài viết liên quan